Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, chuẩn hóa vùng trồng và phát triển chế biến sâu, Vĩnh Long đang từng bước nâng giá trị nông sản chủ lực. Tuy nhiên, những rào cản kỹ thuật, chi phí đầu vào và hạn chế về logistics vẫn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất.
Với lợi thế về đất đai và nguồn nguyên liệu nông nghiệp phong phú, Vĩnh Long xác định chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp là hướng đi quan trọng để nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Sau hợp nhất, tỉnh có hơn 517.000ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 82,3% diện tích tự nhiên. Mỗi năm, địa phương cung ứng khoảng 1,9 triệu tấn lúa, 3,25 triệu tấn rau màu và 671.000 tấn thủy sản.
Nguồn lực này tạo nền tảng để phát triển các ngành hàng chủ lực như dừa, sầu riêng, bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, khoai lang và thủy sản. Tuy nhiên, để tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao, sản lượng không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ tuân thủ tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Theo ông Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, diện tích sản xuất hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đã đạt hơn 85.600ha, chiếm gần 11% diện tích sản xuất. Riêng diện tích dừa sản xuất theo hướng hữu cơ vượt 30.708ha.
Tỉnh hiện có 832 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, với tổng diện tích hơn 28.893ha. Trong đó, 664 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu có quy mô hơn 26.154ha và 107 mã số cơ sở đóng gói. Đây là nền tảng để nhiều mặt hàng nông sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch sang Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, New Zealand, Hàn Quốc, Trung Quốc và Australia.
Bên cạnh chuẩn hóa vùng nguyên liệu, Vĩnh Long đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí, nâng năng suất và giảm tác động đến môi trường.
Tại xã Hòa Hiệp, mô hình sử dụng thiết bị bay không người lái để phun thuốc bảo vệ thực vật giúp giảm khoảng 30% lượng thuốc và nước sử dụng. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, mô hình nuôi lươn kết hợp trồng rau thủy canh theo phương pháp Aquaponics mang lại lợi nhuận trên 35%.
Đáng chú ý, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao, với quy mô hơn 6.300ha, đạt năng suất 40-60 tấn/ha, cao gấp 3-4 lần phương thức nuôi truyền thống.
Cùng với đó, tỉnh duy trì khoảng 973-980 sản phẩm OCOP, trong đó có 15 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia. Sự tham gia của doanh nghiệp cũng góp phần thúc đẩy liên kết sản xuất và chế biến. Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới phát triển vùng dừa hữu cơ từ 15.000-20.000ha; Tập đoàn De Heus đã khánh thành nhà máy thức ăn thủy sản có công suất 84.000 tấn/năm.
Gỡ rào cản để tăng giá trị xuất khẩu
Dù đạt nhiều kết quả, nông sản Vĩnh Long vẫn chịu sức ép từ những thay đổi về tiêu chuẩn nhập khẩu, biến động giá cả và chi phí vật tư. Việc xuất khẩu bưởi tươi sang Australia phải tạm dừng để rà soát sinh vật gây hại và hoàn thiện hồ sơ khắc phục theo yêu cầu kỹ thuật của đối tác là một ví dụ cho thấy rủi ro khi quy trình sản xuất chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện thị trường.
Ngoài ra, sản xuất manh mún, phụ thuộc thương lái, thiếu kho lạnh và hạ tầng kiểm nghiệm chất lượng tại chỗ cũng ảnh hưởng đến khả năng bảo quản, chế biến và giao hàng. Biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và sạt lở tiếp tục tạo thêm áp lực đối với vùng nguyên liệu.
Trước tình hình này, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành phối hợp tháo gỡ khó khăn, mở rộng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, đồng thời đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ sở phân tích, kiểm nghiệm chất lượng nông sản. Tỉnh cũng định hướng phát triển nguồn giống thích ứng hạn mặn, bảo tồn nguồn gen bản địa và tăng cường tập huấn kỹ thuật cho nông dân.
Về dài hạn, Vĩnh Long hướng đến năm 2030 với trọng tâm là quy hoạch hạ tầng logistics, thu hút đầu tư vào chế biến sâu và hệ thống kho lạnh tập trung. Địa phương đồng thời thúc đẩy nông nghiệp phát thải thấp, mở rộng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và nghiên cứu tham gia thị trường tín chỉ carbon thông qua hợp tác quốc tế.
Việc kết hợp công nghệ, tiêu chuẩn hóa sản xuất và đầu tư hạ tầng được kỳ vọng giúp nông sản Vĩnh Long giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô, nâng cao giá trị và duy trì vị thế tại các thị trường quốc tế.







